Bạn thấy nội dung trên Cổng thông tin Thành Phố Hà Tĩnh như thế nào?
Đang trực tuyến
386
Truy cập trong ngày
1.088
Truy cập trong tháng
774.984
Tổng số truy cập
13.483.664

    Lễ hội dân gian xưa ở Thành Sen
    Cập nhật lúc : 10:16, ngày 30/01/2013 (GMT+7)

    TPHT - Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hoá nhằm thoả mãn nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ của nhân dân, củng cố quan hệ cộng đồng. Lễ hội là nơi thực thi tín ngưỡng đối với các vị thần, thánh nên lễ hội nào cũng hàm chứa một tâm tưởng vừa kín đáo, vừa sâu xa, vừa lan toả bao trùm là thờ cúng các vị thần thánh, mong được phù hộ cho mọi người an khang thịnh vượng; đồng thời là dịp toàn thể cộng đồng hoá thân, nhập cuộc, được thưởng thức văn hoá nghệ thuật dân gian truyền thống của cha ông, tổ tiên mình sáng tạo nên. Không phải là nơi có những lễ hội lớn, nhưng lễ hội dân gian xưa trên đất Thành Sen có những nét đặc sắc cần được khôi phục, phát triển, góp phần làm cho đời sống tinh thần của nhân dân thêm sống động, đa dạng, bảo lưu nhiều phong tục tập quán tốt đẹp, tăng cường đoàn kết, cố kết cộng đồng.

    Có nhiều lễ hội mang tính chất khác nhau: lễ hội nghề nghiệp, lễ hội phồn thực, giao duyên, hội thi tài (đấu vật, đấu võ, vật cù, bôi lợi, dệt vải v.v...). Có lễ hội định kỳ cũng có lễ hội đột xuất. Ở Tỉnh lỵ có những lễ hội như hội Chay của phường thịt chợ tỉnh. Lễ hội gắn với tục thờ Thành Hoàng, lễ hội vật cù, bơi thuyền khá phổ biến ở các xã, nhất là vùng Đông Lỗ (Thạch Linh), Trung Tiết, Đồng Môn. Hàng năm vào ngày 8 tháng 4 âm lịch, chùa Nài có Hội tắm cheo Phật, nước được lấy từ giếng ở dưới chân núi, trước đây người ta gọi là “rước nước”. Vào ngày Hội này, các thiện nam, tín nữ, người dân trong vùng về dự đông vui.

    Đền, miếu ở làng, xã tuy không lớn nhưng việc cúng tế cũng khá linh đình. Ở nhiều làng trong dịp lễ, tết giết thịt tới năm ba con lợn, hoặc một vài con bò để ăn uống và chia phần.

    “...Rơm cỏ nhà ai được xác to?

    Đem làm tế phẩm cũng con bò...

    ...Tế xong ai nấy đều dư huệ,

    Dày mỏng còn nhờ chú xã cho”

    Trong lễ tế xuân hoặc tế lục ngoạt các thôn thường có rước thần. Ở Trung Tiết, 11 thôn đều rước kiệu, rước hương án về tế ở đền Hội đồng của xã sau mới rước về miếu các làng. Ở các làng, xã khác cũng vậy, ngày rước thần cũng là ngày hội làng. Không chỉ có chức sắc, hào lão, trai tráng mà già trẻ, gái trai đều náo nức đi rước, đi xem...

    Các phường xe kéo, phường chè, phường thịt lợn ở chợ tỉnh thì làm chay vào dịp tết Trung nguyên, phường chè làm chay hàng năm. Trong một tháng kể từ rằm tháng sáu, hàng chè bán “chè om” với giá cao hơn bình thường một chút, lấy tiền chênh lệch đó để sắm sửa lễ vật, khách mua chè đều vui lòng chấp thuận. Vào ngày rằm tháng bảy, phường lập đàn, mời đạo tràng tới cúng lế linh đình. Lễ xong mọi người xông vào “cướp cỗ”. Người ta tin rằng năm nào người cướp cỗ đông vui thì năm ấy làm ăn thịnh vượng. Tại chợ tỉnh người ta tổ chức cúng rằm tháng 7 rất to, gọi là cúng cô hồn bằng cách đổ cháo vào lá đa cúng với hoa quả và các lễ vật khác.

    Phường thịt cứ mười hai năm làm chay một lần. Trước khi mở đám, các hàng đều bán thịt om được bà con ủng hộ, coi như làm việc phúc đức. Vào hội chay, không chỉ phường thịt mà cả chợ tỉnh đều náo nức. Các hàng quán khác đều biện lễ tới cúng. Sư sãi, đạo tràng được mời đến sắp xếp công việc từ hàng tuần trước, quan phòng thành được mời làm giám trai. Suốt ba ngày, lễ rước kinh phật, mở đàn “khai phương”, đến “đàn oan”, “đàn ngục”, rước đùng, rước tướng, ra đám... là một loại hoạt động nghệ thuật mang tính chất tôn giáo, thu hút nhiều người xem. Có thể nói hội chay chợ tỉnh là một dịp hiếm có “náo động” Tỉnh lỵ vốn yên ả này. Phường xe kéo cũng làm chay hàng năm nhưng đơn giản hơn. Trung Tiết thường có tế Thần làng (Kỳ Phúc lục ngoạt) tháng giêng và tháng sáu âm lịch. Mỗi cuộc đều tiến hành rước cờ, sắc, tập trung tế tự, lễ vật tiệc tùng linh đình và diễn ra trong thời gian hai ngày. Cứ ba năm một lần tổ chức nhao cù (một hình thức tương tự như ném bóng rỗ ngày nay) và rước tập trung đủ các thành phần trong làng, lễ vật cũng lớn, diễn ra từ ba đến bốn ngày tại điền xã. Riêng các dòng họ có ông tổ có công với triều đình cũng được người đội vu hương, che lọng rước về đình.

    Có nơi trong họ tộc quy định khoảng bốn điếm thờ tiên, phật, thánh mẫu, thánh ông thường xuyên cầu cúng, giáng đông trừ ma quỷ, giải hạn, cho bùa phép chữa bệnh, truyền gia sự, mua bán trẻ thơ (gọi là bán con nuôi cho thần thánh)

    Ngoài các lễ hội tôn giáo, tín ngưỡng còn tổ chức hội vui xuân hoặc vào các dịp lễ lạt quan trọng, Hội vui thường có các trò chơi, các cuộc thi đánh cờ thẻ, cờ người, chọi gà, đấu vật, bơi thuyền, tổ tôm điếm. Các làng bao quanh tỉnh thành  thường tổ chức lễ hội của làng như hội xã Văn, Hội hào, Tế thánh, lễ Thường Tấn (sau thu một vụ), tế Hạ điền (bắt đầu cấy), lễ Khai hạ (mồng 7 tháng giêng) cúng trời đất tổ tiên, thổ công, thần tài và vẫn duy trì đến bây giờ.

    Lễ “cầu ngư” ở Đồng Môn mở vào khoảng từ 15 cho đến 30 tháng 6 âm lịch hàng năm. Ngoài những mong ước như đời sống ấm no, dân an vật thịnh, còn mong cho cá tôm phát triển, trời yên biển lặng, đánh bắt được nhiều tôm cá, hải sản, ra khơi, ra lộng bình an. Các lễ hội này thường có đua thuyển, đến ngày lễ người ta dựng rạp trên bờ sông, rước các thần từ đền ra lễ tế, rồi tổ chức thi bơi giữa sáu đội do sáu chủ thuyền được dân làng cử ra dẫn đầu, sau đó lại rước thần về đền.

    Hội Tư Văn còn tổ chức lễ tế Thánh vào giữa tháng hai và tháng tám âm lịch (tức là lễ tế xuân và thu), lễ vật thường là xôi, thịt lợn luộc. Chùa phật hàng năm có hai lễ lớn đó là lễ Phật đản (mồng 8 tháng 4) và lễ tế trung nguyên (lễ vu lan rằm tháng bảy âm lịch).

    Lễ hội Miếu Đôi được tổ chức hàng năm vào ngày mồng 7 tháng giêng và ngày 15 tháng sáu âm lịch, nhân dân vùng xung quanh tập trung về đây làm lễ cầu mưa, tổ chức đua thuyền, bơi chải là một trong những tín ngưỡng thờ thần nước (còn gọi là Đảo Vũ - cầu mưa). Với quan niệm “đất có thổ công, sông có hà bá”, những vị thần sông, thần đất ấy đêm ngày tác động không nhỏ đến sự an cư của làng, bởi thế làng phải thờ thần, tế thần. Lễ hội cầu mưa của nhân dân địa phương từ bao đời được thực hiện ở Miếu Đôi (Tiền Bạt) chứa đựng khát vọng thiết tha mãnh liệt về tín ngưỡng cầu mưa của người nông dân từ xa xưa rất thiêng liêng

     

    Hải Yến