Bạn thấy nội dung trên Cổng thông tin Thành Phố Hà Tĩnh như thế nào?
Đang trực tuyến
582
Truy cập trong ngày
3.054
Truy cập trong tháng
831.649
Tổng số truy cập
13.327.802

    Nhà lao Hà Tĩnh những điều chưa kể
    Cập nhật lúc : 08:55, ngày 07/06/2013 (GMT+7)

    TPHT - Được xây dựng từ sau khi thực dân Pháp đặt chính quyền cai trị trên đất Hà Tĩnh (khoảng năm 1898) cho đến những năm đầu của thế kỷ XX. Theo Hồi ký của cố giáo sư Đặng Thai Mai viết về Nhà lao năm 1908 “... sau bức tường vôi, chỉ có một nhà gạch không to lắm án ngự lấy “cái trại lá”, nơi giam tù... gọi là trại lá bởi vì lợp bằng gianh. Tỉnh Hà Tĩnh hồi ấy chưa có nhà giam bằng gạch... đi qua cái sân rộng tới một cái thềm tam cấp rồi đi vào nhà phía sau. Nhà chia làm hai buồng, giữa có một lối vào hẹp, sao tối om và hôi hám thế này...” Sau những năm 20, Nhà lao Hà Tĩnh mới được xây cất kiên cố.

        Nhà Lao gồm sáu nhà gạch xếp thành hai dãy đối diện nhau: Bắc nhất, Bắc nhì, Bắc tam, Nam nhất, Nam nhì, Nam tam (Nam nhì là lao giam tù phụ nữ, Nam tam mỗi lao 6 cái)... Trước và sau vụ chống thuế năm 1908, ở Hà Tĩnh thực dân Pháp bắt nhiều sỹ phu yêu nước thuộc Hội Duy Tân như: Ngô Đức Kế, Lê Văn Huân, Nguyễn Duy Phương, Phạm Văn Ngôn, Phạm Thản, Võ Tĩnh, Nguyễn Hàng Chi, Trịnh Khắc Lập...giam tại Nhà lao Hà Tĩnh.

              Trong những năm 1930 đến 1932, Nhà Lao Hà Tĩnh chật ních tù nhân có lúc “mỗi lao lên tới 125 người, mỗi dãy cùm dài độ 2 m, cùm những 5 người, thường phải thay đổi 3 người nằm thì 2 người ngồi và ngược lại. Mùa đông người tù áo ướt đẩm mồ hôi, còn mùa hè thì như bị nướng trong lò... mỗi ngày được ra ngoài 5-6 phút để tiểu giải, rửa ráy nếu chậm là bị roi quất vào lưng, vào đầu... Cơm, nước thì bị bớt xén, có lúc cơm đầy trấu và sạn; giờ ăn uống lại thất thường.

               Nhà Lao Hà Tĩnh tồn tại cho đến khi Cách mạng Tháng Tám thành công, sau đó chính quyền cách mạng cho phá dỡ cùng với Thành Hà Tĩnh, có tài liệu cũ để lại cho thấy di tích cổng Thành và Nhà lao vẫn còn gần như nguyên trạng cho tới năm 1957.

              Có nhiều câu chuyện đáng nhớ ở nhà Lao Hà Tĩnh. Đó là vào khoảng năm 1892 – 1895 có người nữ tù mang án tử hình với tội danh "âm thông với giặc chống triều đình", mặc dầu bà là người chưa bao giờ tham dự quốc sự. Người tù ấy là bà Phan Thị Đạt chị ruột lãnh tụ phong trào Cần Vương - Phan Đình Phùng, vợ cử nhân Lê Văn Thống, mẹ của Lê Văn Huân. Sau khi Cụ Đình phát lệnh khởi nghĩa chống Pháp, bà cử Thống phải đưa các con trốn tránh nhiều nơi, từ Đức Thọ lên Hương Sơn rồi sang Nam Đàn, Thanh Chương. Cuối cùng bà vẫn bị bắt đưa về giam ở Nhà Lao Hà Tĩnh và bị kết án tử hình. Tháng 12 năm 1894, bà bị giải vào Huế để thụ hình. Đến Quảng Bình, bà lại được đưa trở lại Hà Tĩnh vì viện Cơ Mật không y bản án của tỉnh với lý do"em làm giặc, chị gái đã xuất giá không có tội, nếu đã bắt thì cũng chỉ bị giam một thời gian". Khi bà mới về đến Nhà Lao đã được vợ Tuần vũ Tôn Thất Hân mời vào tư thất tiếp đãi cơm nước, chuyện trò thân mật. Bà lấy làm ngạc nhiên chưa kịp hỏi thì ông Tuần đưa cho bà phong thư (1) và nói: "phiền bà lên trao tận tay cho cụ Đình. Nếu việc có kết quả thì xin trọng thưởng". Dịp may hiếm có vì được gặp người em lâu ngày xa cách, bà vui vẻ nhận lời. Tuần phủ cho một đội lính cơ đưa võng cáng, cờ, trống đến nhà Lao đón bà Đạt, rước lên Hương Khê. Cụ Đình được tin cũng cho một toán nghĩa quân xuống đón tận Cửa Rào rước chị về đồn. Bà ở lại ba ngày rồi hai chị em chia tay. Bà nói: "cậu ra hay không là chuyện hệ trọng của nước nhà, chị không dám bàn. Còn chị thì phải về kẻo bọn họ lại nghĩ là chị sợ uy lực của chính quyền. Cụ Đình bảo"Tôi không ra nhưng nếu phúc đáp ngay thì họ sẽ giết chị, cứ để thư thư. Nay tôi viết mấy dòng, chị mang về trước". Sau đó, vì không nhận được thư hàng của Phan Đình Phùng nên chúng giam giữ bà cho đến năm 1895 mới được tha.

              Sau vụ chống thuế (1908), chính quyền thực dân bắt giam hàng loạt yếu nhân của Hội Duy Tân, trong đó có Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Đặng Văn Bá, Nguyễn Hàng Chi, Trịnh Khắc Lập. Tất cả mọi người đều bị giam ở nhà Lao chờ ngày xét xử. Mặc dù đứng trước cái chết nhưng họ vẫn cùng nhau ngâm thơ. Trước hôm bị đưa ra Vinh để đi Côn Đảo, nhìn thấy "hai bên xe ngựa cảnh tưng bừng". Ông nghè Ngô Đức Kế ngẫu hứng đọc một bài thơ:

    "….Sống không thể để loài da trắng

                 Chết nữa cho cam giọt máu hồng

                 Trước mặt anh em thề một tiếng

                 Trên trời, dưới đất giữa non sông"

       Ông cử Đặng Văn Bá đọc tiếp bằng dọng điệu sang sảng

              "…Thà  không trời đất, không chi cả

                    Còn có non sông, có lẽ nào

                   Quyết phải xum tay chèo kéo lại

                   Để chi muôn mặt ngắm trông vào…"

     

              Cấp ủy, chính quyền thành phố đang có ý tưởng gắn bia tưởng tích Nhà lao Hà Tĩnh, đây là một việc làm có ý nghĩa, song đặt vị trí bia ở đâu khi hầu hết dấu tích Nhà lao xưa không còn, trong lúc đó, nhà dân lại ở san sát ngay trên nền Nhà lao cũ, thiết nghĩ việc lấy ý kiến nhân dân, các nhà nghiên cứu là việc làm rất cần thiết hiện nay. Để bia tưởng tích Nhà lao xứng với vị trí lịch sử và có tính chất giáo dục cao.



    1 Thư của Toàn quyền Pháp Đơlanetxang, Hoàng Cao Khải và Tôn Thất Hân dụ cụ Phan Đình Phùng ra hàngệ

    HẢI YẾN